Anh quốc bỏ than, chuyển sang NLTT như thế nào?

Anh quốc bỏ than, chuyển sang NLTT

Tiếp nối chuyên đề “Kinh nghiệm chuyển dịch sang năng lượng tái tạo ở Đức – Nhìn từ thể chế”, chuyên gia Tạp chí Năng lượng Việt Nam sẽ trả lời cho câu hỏi: Tại sao ngành điện Vương quốc Anh rời bỏ than để chuyển sang năng lượng tái tạo? Quá trình đó diễn ra như thế nào (từ phương diện thể chế trong bối cảnh kinh tế, xã hội, tài nguyên năng lượng)? Từ đó, lưu ý cho các quốc gia nghèo, đang phát triển khi tham khảo kinh nghiệm từ quốc gia này.

Nhà máy điện lớn nhất tại Anh ngừng sử dụng than đá vào năm 2021 - Tuổi Trẻ  Online


KỲ 1: TỔNG QUAN VỀ MỘT SỐ CHỈ TIÊU NĂNG LƯỢNG, KINH TẾ CỦA VƯƠNG QUỐC ANH


PGS, TS. NGUYỄN CẢNH NAM [*]


Ngành điện Vương quốc Anh trong lịch sử có sự hiện diện chủ đạo của nhiên liệu than với tỷ trọng điện than đạt cao 65% vào năm 1990, đạt đỉnh 65,8% năm 1991 và sụt giảm xuống 34,1% vào năm 2001, tiếp theo duy trì ở mức trên 30% cho tận tới năm 2014, nhưng đã sụt giảm mạnh sau đó, đến năm 2019 chỉ còn 2,1%.

Khoảng 99% dự án điện than mới tại Việt Nam không có khả năng sinh

Ngược lại, tỷ phần điện năng lượng tái tạo (NLTT) đã tăng từ 2,7% năm 2000 lên 35% năm 2019. Đặc biệt, tại Hội nghị cấp cao Liên Hợp Quốc (LHQ) về chống biến đổi khí hậu lần thứ 23 (COP23) tại Thành phố Bonn, miền Nam nước Đức, Anh là một trong 3 nước khởi xướng thành lập “Liên minh chống sử dụng than đá” (PPCA). Theo các cam kết ban đầu, Anh sẽ dừng dùng than từ năm 2023.

Dưới đây chúng tôi sẽ nêu một số chỉ tiêu năng lượng và kinh tế của Vương quốc Anh, chủ yếu từ năm 2009 – 2019.

Bảng 1: Động thái cơ cấu tiêu dùng năng lượng sơ cấp (NLSC) của Vương quốc Anh từ 2000 – 2019:

NămLoại năng lượng (%)
Dầu mỏKhí đốtThan đáNLHNThủy điệnNLTTTổng số
200035,038,916,68,70,8100
201035,240,414,96,80,42,3100
201537,432,112,28,30,79,1100
201939,736,23,36,30,618,8100

Nguồn: [1]. Ghi chú: NLHN – Năng lượng hạt nhân, NLTT – Năng lượng tái tạo.


Bảng 2: Tiêu dùng NLSC của Anh từ 2009 – 2019:

Chỉ tiêu20092010201120122013201420152016201720182019
Tổng (EJ)8,728,948,458,558,518,028,118,017,997,967,84
Tăng trưởng2,5%-5,5%1,2%-0,5%-7,7%1,1%-1,2%-0,2%-0,4%-1,5%
GJ/người138,8140,8132,0132,6131,0122,6123,1120,9119,8118,6116,1
GDP (tỷ USD)21972262234224212510263327242820292630393134
Tăng trưởng1,7%1,6%1,4%2,0%2,9%2,3%1,8%1,8%1,4%1,4%
USD/người3529136038370073799539154407624183942959443014574147169
GJ/1000USD3,9333,9073,5673,4903,3463,0082,4922,8142,7042,5902,461

Nguồn: NLSC theo BP Statistical Review of World Energy, 2020 và GDP theo [7]. Ghi chú: 1 EJ = 109 GJ = 23,9 triệu TOE. GDP tính theo sức mua tương đương (PPP).


Đến năm 2019, tiêu dùng NLSC của Vương quốc Anh chiếm 1,3% tổng tiêu dùng NLSC của thế giới, trong khi GDP là 2.829 tỷ USD (theo giá hiện hành), chiếm tới 3,3% tổng GDP toàn cầu. Cơ cấu GDP 2019 theo lĩnh vực (%): Nông nghiệp: 0,6%, Công nghiệp: 19,2%, Dịch vụ: 80,2%.

8 nước Liên minh châu Âu đặt mục tiêu loại bỏ nhiệt điện | Môi trường |  Vietnam+ (VietnamPlus)

Qua số liệu trong 2 bảng trên cho thấy:

1/ Cơ cấu tiêu dùng NLSC: Tỷ trọng của dầu mỏ và của NLTT tăng, nhất là NLTT tăng từ không đáng kể vào năm 2000 lên 13,8% năm 2019. Tỷ trọng của khí đốt, năng lượng hạt nhân và thủy điện tăng giảm đan xen, nhưng theo xu thế giảm. Riêng tỷ trọng của than đá giảm mạnh, từ 16,6% năm 2000 xuống còn 3,3% năm 2019.

2/ Quy mô tiêu dùng NLSC: Cơ bản biến động theo xu hướng giảm, từ 8,72 EJ (khoảng 208 triệu TOE) năm 2009 xuống 7,84 EJ (khoảng 187 triệu TOE) năm 2019, giảm bình quân 1,22%/năm. Trong khi GDP theo sức mua tương đương ngày càng tăng với mức tăng bình quân 1,83%/năm và đạt vào loại nước siêu giàu. Qua đó cho thấy, nhu cầu NLSC của nước này đã qua đỉnh và đang xu hướng giảm, điều đó cũng được thể hiện qua tiêu dùng điện năng dưới đây.

3/ Mức tiêu dùng NLSC bình quân đầu người: Có xu hướng giảm mạnh. Đến 2019, bình quân đầu người của Vương quốc Anh chỉ cao hơn 53,4% bình quân thế giới (75,7 GJ/người) và thấp hơn 13,5% bình quân của EU (134,3 GJ/người).

4/ Nguyên nhân chính làm giảm tiêu dùng NLSC cả về quy mô và bình quân đầu người là do cơ cấu nền kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng lĩnh vực sử dụng ít năng lượng hơn như lĩnh vực dịch vụ và giảm tỷ trọng lĩnh vực tiêu hao nhiều năng lượng như lĩnh vực công nghiệp – tức theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng. Điều đó được thể hiện rõ rệt qua chỉ tiêu cường độ sử dụng NLSC GJ/1000USD: Đã giảm từ 3,933 năm 2009 xuống còn 2,461. Như vậy, giảm 37,4% sau 10 năm – là mức giảm đáng kể.

Bảng 3: Sản lượng điện của Vương quốc Anh từ 2009 đến 2019 (tỷ kWh):

Chỉ tiêu20092010201120122013201420152016201720182019
Sản lượng376,8382,1368,0363,9358,3338,1338,9339,2338,2332,9323,7
Tăng trưởng1,4%-3,7%-1,1%-1,5%-5,6%0,2%0,1%-0,3%-1,6%-2,8%
kWh/103USD171,5169,0157,2150,4153,5128,4124,4120,3115,6109,6103,3

Nguồn: BP Statistical Review of World Energy, 2020. GDP tính theo PPP như trong bảng 2.


Bảng 4: Cơ cấu sản lượng điện theo nguồn nhiên liệu năm 2019 của Anh (%):

DầuKhí đốtThan đáHạt nhânThủy điệnNLTTKhácTổng số
0,340,92,117,41,935,02,4100

Nguồn: BP Statistical Review of World Energy, 2020.

Thế giới


Qua bảng 3 và 4 cho thấy, tương tự như tiêu dùng NLSC, nhu cầu điện năng của Vương quốc Anh đã đạt đỉnh và đang xu thế giảm bình quân 1,49%/năm trong giai đoạn từ 2009 đến 2019. Cơ cấu điện năng theo xu thế giảm tỷ trọng điện than từ trên 30% trước năm 2009 xuống còn 2,1% năm 2019 và tăng tỷ trọng điện NLTT từ mức không đáng kể trước năm 2009 lên 35% năm 2019, còn điện khí đã và đang giữ vai trò chính, chiếm tỷ trọng tới 40,9%.

Cũng giống như chỉ tiêu cường độ năng lượng, cường độ điện năng trên GDP (PPP) không ngừng giảm mạnh: Từ 171,5 kWh/103USD năm 2009 xuống còn 103,3 kWh/103USD năm 2019, giảm gần 40%.

Giá điện bình quân (tháng 6/2018) tại Vương quốc Anh là 21 cent/kWh, cao gấp rưỡi so với bình quân của thế giới là 14 cent/kWh [5].

0933599147